Luật xử lý vi phạm hành chính sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2013

(3/27/2013 4:17:53 PM)
 
Ngày 20 tháng 6 năm 2012, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII kỳ họp thứ 3 đã thông qua Nghị quyết số 24/2012/NQ13, Chủ tịch nước đã Lệnh công bố Luật Xử lý vi phạm hành chính.

 

Theo đó, Luật Xử lý vi phạm hành chính gồm có 6 phần với 12 chương và 142 điều
+ Phần thứ nhất về những quy định chung được quy định từ Điều 1 đến Điều 20;
+ Phần thứ hai quy định về xử phạt vi phạm hành chính gồm 3 chương, 68 điều, từ Điều 21 đến Điều 88;
+ Phần thứ ba quy định về các biện pháp xử lý hành chính gồm 5 chương, 30 điều, từ Điều 89 đến Điều 118;
+ Phần thứ tư quy định về các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính gồm 2 chương, 14 điều từ Điều 119 đến Điều 132;
+ Phần thứ năm là những quy định đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính gồm 2 chương, 8 điều, từ Điều 133 đến Điều 140;
+ Phần thứ sáu là phần quy định về điều khoản thi hành.
Luật xử lý vi phạm hành chính có những điểm nổi bật đáng chú ý sau:
            *  Đối với Phần thứ nhất - một số quy định chung:  Luật Xử lý vi phạm hành chính đã bổ sung một điều (Điều 17) quy định về trách nhiệm của Chính phủ trong việc thống nhất quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ trong việc thực hiện công tác này; Tòa án nhân dân, các Bộ, Ngành và Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện hoặc phối hợp với Bộ tư pháp trong việc thực hiện công tác quản lý thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
            * Đối với Phần thứ hai -  xử phạt vi phạm hành chính: Luật Xử lý vi phạm hành chính có bổ sung hình thức xử phạt mới là đình chỉ hoạt động có thời hạn và quy định áp dụng linh hoạt giữa hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung đối với cùng một hình thức xử phạt vi phạm hành chính.
Riêng đối với hình thức phạt tiền, tại Điều 23 đã phân định mức phạt tiền tối thiếu và tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính giữa cá nhân và tổ chức, theo đó, mức phạt tiền đối với cá nhân là từ 50.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng, đối với tổ chức là từ 100.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng.
Tại Điều 24 của Luật cũng ghi nhận mức phạt tiền được quy định trong các luật khác như luật quản lý thuế, đo lường, sở hữu trí tuệ, an toàn thực phẩm, chất lượng sản phẩm hàng hóa, chứng khoán, hạn chế cạnh tranh và quy định mức phạt tối đa đối với các lĩnh vực quản lý nhà nước là mức phạt áp dụng đối với cá nhân, mức phạt đối với tổ chức được áp dụng gấp 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
Điểm mới nữa trong cách quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh lần này là một số chức danh có thẩm quyền chung (như Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp), các chức danh có thẩm quyền xử phạt theo địa bàn thực hiện xử phạt trong nhiều lĩnh vực (như Công an nhân dân, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, Thanh tra) Luật không quy định thẩm quyền xử phạt tiền của từng chức danh này theo một mức phạt tiền cố định như Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính mà quy định theo tỷ lệ phần trăm (%) so với các mức phạt tối đa được quy định tại Điều 24, đồng thời có khống chế mức trần.
Tại Điều 52, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân; trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt tổ chức gấp 2 lần thẩm quyền xử phạt cá nhân và được xác định theo tỷ lệ phần trăm quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính đối với chức danh đó. Trường hợp phạt tiền đối với vi phạm hành chính trong khu vực nội thành, thì các chức danh có thẩm quyền phạt tiền đối với các hành vi vi phạm hành chính do Chính phủ quy định cũng có thẩm quyền xử phạt tương ứng với mức tiền phạt cao hơn đối với các hành vi vi phạm hành chính do Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương quy định áp dụng trong nội thành.
Tại Điều 53 của Luật Xử lý vi phạm hành chính đã quy định bổ sung cơ chế xử lý thẩm quyền phạt tiền trong trường hợp có sự thay đổi tên gọi của chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, nhằm bảo đảm tính linh hoạt trong việc áp dụng quy định về thẩm quyền xử phạt tiền.
            * Đối với Phần thứ tư - các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính: Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định 9 biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính. Trong 9 biện pháp, thì biện pháp áp giải người vi phạm là biện pháp mới được bổ sung (Điều 124); biện pháp giao cho gia đình, tổ chức quản lý người đang trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính được thay đổi tên gọi từ biện pháp bảo lãnh hành chính (Điều 131).
Luật Xử lý vi phạm hành chính được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2012 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2013, trừ các quy định liên quan đến việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính do TAND xem xét, quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2014.
                                                                                                            T_T